This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

Mua Bán Tên Miền

Seeds & Tools

Healthy Foods

Friday, 27 September 2013

Virus HPV 16 - thủ phạm gây ung thư họng

ANTĐ - Nhiễm một số chủng virus HPV (virus gây bệnh ung thư tử cung) làm tăng đáng kể nguy cơ ung thư vòm sau của cổ họng (hầu họng).
Các nhà nghiên cứu đã so sánh mẫu máu của 938 bệnh nhân bị ung thư đầu và cổ, ung thư thực quản, và ung thư hầu họng với 1.599 người không mắc bệnh. Họ phát hiện ra rằng hơn 1/3 những người bị ung thư hầu họng bị nhiễm virus HPV 16 hay gọi là E6. Những kháng thể này được phát hiện trong mẫu máu của bệnh nhân thậm chí trong cả mẫu máu lấy hơn 10 năm trước khi được chẩn đoán ung thư. Trong khi đó, ít hơn 1% những người không bị ung thư có các kháng thể trên trong máu của họ.

Protein E6 của HPV vô hiệu hóa các protein p53 được biết đến có vai trò bảo vệ các tế bào khỏi bị phá hủy DNA và sự phát triển của bệnh ung thư. Có kháng thể này trong máu chỉ ra rằng quá trình gây ung thư của HPV đã được kích hoạt trước.

Tiến sĩ Ruth Travis, một trong những tác giả của nghiên cứu tại Đại học Oxford, cho biết: “Những kết quả nghiên cứu trên đã cung cấp bằng chứng cho thấy nhiễm HPV 16 có thể là một nguyên nhân quan trọng gây bệnh ung thư hầu họng”.

HPV được biết đến làm tăng nguy cơ phát triển ung thư cổ tử cung, ung thư hậu môn và dương vật và chúng có thể lây lan qua tiếp xúc bằng miệng hoặc bộ phận sinh dục. Những người thường xuyên quan hệ tình dục bằng miệng có nguy cơ cao bị nhiễm virus này.

Trúc Linh
(Theo Dailymail) 

Phòng ngừa nhiễm nấm vùng kín

ANTĐ - Sự phát triển quá mức của nấm Candida albicans là dấu hiệu của sự mất cân bằng vi khuẩn trong âm đạo. Phụ nữ thường bị nhiễm nấm âm đạo ở một thời điểm nào đó trong cuộc đời. Mặc dù ít khi dẫn đến các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, nhưng nhiễm nấm gây khó chịu, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống.

Giữ khô quần áo. Nóng, môi trường ẩm ướt là điều kiện nấm men phát triển. Vì vậy, bạn nên mặc đồ lót chất liệu thấm hút tốt, thoáng mát và tránh mặc quá chật.

Hạn chế thuốc kháng sinh. Thuốc kháng sinh tiêu diệt tất cả vi khuẩn, bao gồm cả vi khuẩn có lợi giúp cơ thể chống lại nhiễm khuẩn. Chỉ nên sử dụng thuốc kháng sinh khi cần thiết, và không bao giờ sử dụng quá liều lượng khuyến cáo.

Tránh hóa chất không cần thiết. Sản phẩm vệ sinh phụ nữ, bao gồm cả thuốc xịt, thụt rửa âm đạo, và thậm chí một số chất bôi trơn có thể làm mất cân bằng độ pH trong âm đạo, tạo điều kiện cho nấm men phát triển.
Chăm sóc bản thân. Hệ thống miễn dịch suy yếu làm cho bạn dễ bị nhiễm trùng, vì vậy hãy tránh sự căng thẳng, lo lắng và nên ngủ đủ giấc.

Điều chỉnh chế độ ăn uống. Nên cắt giảm các loại thực phẩm khiến lượng đường trong máu tăng vọt, như món tráng miệng có đường, nước ngọt, và ngũ cốc chế biến. Sữa chua và tỏi sống là những thực phẩm có chứa chất kháng nấm mạnh.

Bổ sung probiotic. Nếu bạn thường bị nhiễm nấm 3 lần/năm, hãy bổ sung chế độ ăn uống hàng ngày với probiotic có chứa vi khuẩn Lactobacillus. Nghiên cứu cho thấy axit lactic giúp duy trì độ pH trong âm đạo, ngăn ngừa Candida phát triển quá mức.

Trúc Linh
(Theo Prevention) 

Hy vọng mới cho người nhiễm HIV

ANTĐ - Là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu có tính chất hệ thống, bài bản về phân lập, tác nhân dòng và biểu hiện gene mã hóa protease HIV-1 tái tổ hợp từ chủng CRF01-AE trong E.coli, nhóm các nhà khoa học của Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Enzym và Protein, trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội đã bước đầu mở ra khả năng tự sản xuất PI chống HIV ở Việt Nam.
WHO ban hành hướng dẫn mới về điều trị HIV
Những quan niệm sai lầm về nhiễm HIV
Lần đầu tiên chữa trị thành công trẻ sơ sinh nhiễm HIV

Liệu pháp gene giúp điều trị hiệu quả cho các bệnh nhân mắc HIV

Một công trình khoa học ý nghĩa

Cho đến nay vẫn chưa có vaccine phòng chống HIV. Các thuốc chống HIV như ức chế enzyme phiên mã ngược hoặc các chất kìm hãm enzyme protease (PI) không loại bỏ được triệt để HIV ra khỏi cơ thể mà chỉ có tác dụng làm giảm tiến trình dẫn đến AIDS nhằm kéo dài thời gian sống của bệnh nhân. Tuy nhiên HIV là virus rất dễ bị đột biến, tạo các chủng mới, thay đổi tác dụng của thuốc, khiến thuốc không còn tác dụng nữa. Từ năm 2003, Việt Nam đã sử dụng thuốc ức chế protease (PI) để điều trị cho bệnh nhân nhưng vì lí do trên nên hiệu quả chưa cao.

Ở Việt Nam, protease của HIV-1 tách từ bệnh nhân chưa được nghiên cứu nhiều. Các nghiên cứu chủ yếu nhằm phát hiện HIV trong huyết thanh, xác định các nhóm virus HIV gây bệnh và xác định các đột biến liên quan đến tính kháng thuốc. Để thiết kế thuốc PI mới phù hợp với các chủng HIV lưu hành tại Việt Nam, điều kiện tiên quyết phải là nghiên cứu protease, tìm ra những đột biến trong gene mã hóa protease, làm cơ sở để tìm kiếm các chất ức chế protease làm thuốc điều trị HIV/AIDS.

Xuất phát từ thực tế đó, các nhà khoa học của Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Enzym và Protein, Khoa Sinh học, trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội, do PGS.TS Phan Tuấn Nghĩa dẫn đầu, đã bắt tay vào nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu protease virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) phân lập tại Việt Nam”, nhằm mở ra khả năng tự sản xuất PI chống HIV ở Việt Nam. Theo các nhà khoa học, công trình này có ý nghĩa quan trọng vì nó mở ra một hướng nghiên cứu mới trong việc thiết kế các thuốc PI chống các virus gây bệnh khác.

“Nhiều loại virus khi nhân lên lúc đầu cũng tạo ra các phân tử protein có kích thước lớn sau đó enzyme protease phân cắt thành các phân tử có kích thước nhỏ với các chức năng khác nhau giống như virus HIV. Nếu ngăn chặn được sự hoạt động của các protease này thì cũng ngăn chặn được sự nhân lên của một số virus đang lưu hành ở nước ta”, GS.TS Phạm Văn Ty, Khoa Sinh học, ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội, giải thích.

Mở ra hy vọng mới

Sau một thời gian miệt mài nghiên cứu, các nhà khoa học đã tiến hành nhiều thí nghiệm và đã thu được các kết quả quan trọng như đã tinh sạch, nhân dòng và xác định được 8 đoạn gene mã hóa cho protease khác nhau và đã phát hiện được 19 đột biến trong đó có 10 đột biến thay thế axit amin. Các trình tự này đã được đăng ký ở Genbank. Cùng với đó, các nhà khoa học đã thiết kế và biểu hiện protease của HIV-1 trong E.coli, từ đó xây dựng được quy trình tinh sạch protease HIV-1 rất dễ thực hiện. Đặc biệt, các nhà khoa học đã nghiên cứu thành công một số tính chất của protease tái tổ hợp và đã tìm được một số chất ức chế protease.

Những kết quả của đề tài nghiên cứu này rất đáng chú ý vì đây là lần đầu tiên protease của HIV-1 phân lập từ bệnh nhân nhiễm HIV ở Việt Nam đã được nghiên cứu một cách hệ thống và tìm được chất ức chế enzyme protease, làm cơ sở cho việc tạo thuốc PI chống HIV.

PGS.TS Nông Văn Hải, Viện Nghiên cứu Hệ gene đánh giá đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu có tính chất hệ thống, bài bản về phân lập, tác nhân dòng và biểu hiện gene mã hóa protease HIV-1 tái tổ hợp từ chủng CRF01-AE của Việt Nam trong E.coli. Công trình đưa ra một phương pháp có hiệu quả để biểu hiện và tinh sạch protease HIV-1 tái tổ hợp. Chế phẩm protease HIV-1 tái tổ hợp là một sản phẩm quan trọng có thể dùng trong các nghiên cứu và ứng dụng tiếp theo cho phát triển các chất tiềm năng ức chế enzyme này, từ đó có thể phát triển dược phẩm để điều trị bệnh suy giảm miễn dịch do HIV-AIDS.

Kết quả của đề tài bước đầu mở ra khả năng tự sản xuất PI chống HIV ở Việt Nam. Cũng trên cơ sở nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu còn có thể thực hiện nhiều nghiên cứu ứng dụng khác cho virus gây bệnh như HCV, HBV, góp phần giải quyết những khó khăn trong việc sản xuất vaccine để phòng bệnh.
Hoàng Quang Anh 

Peptide từ đậu nành giảm thiểu di căn ung thư đại tràng

Một nghiên cứu gần đây của Đại học Illinois, Mỹ cho thấy, khối di căn ung thư trực tràng ở chuột giảm thiểu đáng kể khi được tiêm hợp chất lunasin peptide từ đậu nành.
Elvira de Mejia, giáo sư về công nghiệp thực phẩm và nhiễm độc thực phẩm cho biết: “Trong nghiên cứu mới này, chúng tôi thấy rằng cho động vật thí nghiệm uống lunasin với liều lượng 20mg/kg trọng lượng cơ thể làm giảm đến 94% số lượng các khối u di căn. Từ 18 khối u, đến giờ chỉ còn 1. Và chúng tôi chỉ dùng lunasin mà không sử dụng một phương pháp điều trị nào khác”.
Các nhà khoa học lên kế hoạch thực hiện lại thí nghiệm với liều lượng lunasin 30mg/kg khi có được nguồn trợ cấp, bởi còn một khối u vẫn là quá nhiều. Điều này thôi thúc các nhà khoa học nghiên cứu một liều uống phù hợp của loại peptide này. Vì xét cho cùng, đậu nành là một loại thực phẩm nên lunasin có thể được tiêu hóa, điều quan trọng là tìm ra lượng vừa đủ cần đưa vào cơ thể để đạt được nồng độ cần thiết của chất này trong máu.
Theo GS. Mejia, cần có những thử nghiệm trên người để xác minh kết quả nghiên cứu tiền lâm sàng. Song, rõ ràng là ăn protein từ đậu nành thường xuyên không chỉ giúp chúng ta có đầy đủ dưỡng chất mà còn phòng bệnh ung thư.
Phương Hà
(Theo Science Daily,7/2013)
Theo SKĐS 

Bổ sung dầu cá tăng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt Lớn | Vừa | Nhỏ

ANTĐ - Theo một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Ung thư quốc gia (Mỹ), nam giới ăn nhiều dầu cá hoặc ăn nhiều thực phẩm bổ sung dầu cá, có hàm lượng axit béo omega-3 cao thì có nguy cơ phát triển bệnh tuyến tiền liệt sau này. Các nhà nghiên cứu đã thu thập và so sánh hàm lượng axit béo omega-3 trong máu của hơn 800 nam giới được chẩn đoán mắc ung thư tuyến tiền liệt với mẫu máu của gần 1.400 nam giới không mắc bệnh. Theo đó, 43% nam giới ăn nhiều cá và bổ sung hàm lượng axit béo omega-3 cao được chẩn đoán mắc bệnh tiền liệt tuyến. Các nhà nghiên cứu giải thích rằng, axit béo Omega-3 có đặc tính là khi được bổ sung với liều lượng cao sẽ làm tế bào suy yếu do tiếp tục quá nhiều nguyên tử oxy, dẫn đến phá hủy ADN, nguyên nhân gây nên ung thư tuyến tiền liệt. Axit béo Omega-3 rất có lợi cho sức khỏe bởi đặc tính kháng viêm và có nhiều trong các loại cá như cá hồi, cá ngừ tươi và viên nang dầu cá. Tuy nhiên, các chuyên gia khuyến cáo rằng, nam giới nên bổ sung lượng axit béo omega-3 phù hợp. Mai Loan (Theo HealthDay)

Một bé gái 12 tuổi đến từ bang Arkansas (Hoa Kỳ), đã phải nhập viện sau khi bị nhiễm vi khuẩn gây chết người, xâm nhập vào cơ thể qua đường mũi và ăn các mô não…

Một bé gái 12 tuổi đến từ bang Arkansas (Hoa Kỳ), đã phải nhập viện sau khi bị nhiễm vi khuẩn gây chết người, xâm nhập vào cơ thể qua đường mũi và ăn các mô não… Cơ quan y tế Arkansas và trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh Hoa Kỳ (CDC) đã khẳng định rằng, bé Kali Hardig đã tiếp xúc với mầm bệnh, sau khi đi bơi ở công viên nước Willow Springs ở thành phố Little Rock, bang Arkansas. Mẹ của Kali, Traci, đã đưa cô bé đến bệnh viện địa phương một ngày sau khi vui chơi ở công viên nước. Bà Traci cho hay: “Tôi chẳng thể nào làm cho con bé hạ sốt. Kali bắt đầu nôn mửa, và nói rằng đầu nó đau rất dữ dội. Con bé chỉ biết nhìn vào tôi và đôi mắt của nó cứ cuộn lên cuộn xuống…” Trùng amip ăn não (Naegleria fowleri) là nguyên nhân của một loại viêm màng não có tên viêm màng não amip cấp tính (PAM). Loại vi khuẩn đơn bào này, thường có trong các vùng nước ngọt và ấm của hồ hay sông suối, vào cơ thể thông qua đường mũi và di chuyển dọc các thần kinh khứu giác lên não, và tại đó, nó bắt đầu phá hủy các mô não. Trùng amip có ngoại hình khá giống mặt người Ở Mỹ, các ca nhiễm bênh thường xảy ra ở phía Nam trong suốt những tháng hè. Những ca mắc phải PAM thường rất hiếm: khoảng giữa năm 2001 và 2010, chỉ có 32 ca được báo cáo lên CDC. Loại vi khuẩn này không có trong nước biển và những vùng nước mặn khác. Triệu chứng ban đầu của người bị nhiễm PAM thường xuất hiện trong vòng 7 ngày kể từ ngày tiếp xúc với mầm bệnh, bao gồm: cứng cổ, đau đầu, sốt, buồn nôn và ói mửa. Sau đó, các triệu chứng nặng hơn như rối trí, mất thăng bằng, co giật và ảo giác có thể xuất hiện. Đây là loại bệnh luôn gây tử vong cho người bệnh, cho dù việc điều trị đã bắt đầu từ rất sớm. Các bác sĩ ở Arkansas đã phải đưa Kali vào tình trạng hôn mê để ổn định cô bé. Cơ hội sống sót sau khi bị mắc PAM là rất ít. Kể từ năm 1962, đã có 128 ca nhiễm bệnh và chỉ có duy nhất một người sống sót (không tính trường hợp của bé Kali) sau khi được cho uống kháng sinh. Tuy nhiên, phương pháp này lại không áp dụng thành công đối với các bệnh nhân khác. Dù phần đa các ca mắc bệnh đều được gây ra bởi việc bơi lội trong các vùng nước ấm, nhưng vẫn có trường hợp do nước máy gây nên. Năm 2011, 2 người sống tại hai vùng hoàn toàn khác nhau của bang Louisiana (Hoa Kỳ), cũng đã bị nhiễm trùng amip, sau khi sử dụng nước máy để rửa mũi. Hiện các quan chức của bang Arkansas đã cho đóng cửa công viên nước Willow Springs, nơi bé Kali bị nhiễm khuẩn để thuận tiện cho quá trình điều tra. Vào năm 2010, một ca nhiễm trùng amip ăn não cũng đã xảy ra tại công viên này. Để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh PAM, mọi người cần phải tránh bơi lội ở vùng nước ngọt khi nước vẫn còn ấm, bịt mũi và tránh động chạm đến các lớp chất cặn bên dưới hồ, hoặc sông suối. Ngoài ra, đối với những người có thói quen rửa mũi, nước cần phải được chưng cất, tiệt trùng, lọc hoặc đun sôi, sau đó để nguội, và công cụ rửa mũi phải được cọ sạch và lau khô sau mỗi lần sử dụng. Việc uống nước máy không thể gây nhiễm trùng amip, vì khuẩn này chỉ có thể lên não qua đường mũi. Và bênh PAM không thể lây từ người này sang người khác. Trang Hà